Mù Lòa – Sách Văn Học Được Mọi Lứa Tuổi Yêu Thích

by Jack Sparrow
Xem Link tải cuối bài viết!!!

José de Sousa Saramago là một trong những nhà văn, nhà thơ người Bồ Đào Nha nổi tiếng nhất thế kỷ XX. Ông cũng là người duy nhất đạt giải Nobel Văn học (1998) của đất nước này. Mù lòa là một trong những cuốn tiểu thuyết nổi bật nhất của ông, một câu chuyện đầy cảm động về những góc khuất của cuộc sống.

Mù lòa là một cuốn sách hết sức đặc biệt bởi sự liền mạch trong đối thoại của các nhân vật. Ở Mù lòa, dấu chấm phẩy, dấu chấm đều trở nên “tàng hình”, chỉ có dấu phẩy để phân biệt những lời đối thoại không cùng một người. Bởi lẽ vậy, cuốn sách này dễ dàng thu hút người đọc ngay từ cái nhìn đầu tiên.

José de Sousa Saramago (16 tháng 11 năm 1922 – 18 tháng 6 năm 2010) là nhà văn, nhà thơ Bồ Đào Nha đoạt giải Nobel Văn học năm 1998.

Tiểu sử
José Saramago sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở một làng nhỏ cách thủ đô Lisboa 100 km. Bố là lính pháo binh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, quyết định bỏ công việc đồng áng lên sống ở Lisboa. Những năm tiểu học, cậu là một học sinh giỏi: hoàn thành lớp ba và lớp bốn chỉ trong một năm. Khi lớn lên, vì không có khả năng tài chính Saramago phải vào học một trường kĩ thuật để trở thành thợ cơ khí. Học xong hai năm, Saramago làm việc cho một tiệm sửa chữa xe hơi, vào buổi tối, ông thường tới một thư viện công cộng ở Lisboa để đọc sách tự học thêm.

Năm 1944, José Saramago cưới vợ, chuyển sang làm việc ở cơ quan phúc lợi xã hội. Năm 1947, ông viết xong cuốn tiểu thuyết đầu tiên Viúva (Góa phụ) nhưng do yêu cầu nhà xuất bản đã đổi thành Terra do Pecado (Mảnh đất tội lỗi). Sau đó Saramago còn bắt tay viết thêm mấy tiểu thuyết, nhưng rồi ông hiểu ra rằng mình chưa có gì để nói với thế giới nên đã lặng lẽ biến khỏi văn đàn suốt 19 năm không ai để ý.

Vì các lý do chính trị, năm 1949 Saramago bị thất nghiệp nhưng nhờ lòng hảo tâm của một thầy giáo cũ ở trường kĩ thuật, ông tìm được việc làm ở công ty hợp kim. Sau đó ông chuyển sang làm việc với nhà xuất bản Estudios Cor. Đến năm 1966, ông xuất bản Os Poemas Possíveis (Chùm thơ có thể) đánh dấu sự trở lại của ông với văn chương. Năm 1969 ông vào Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha. Năm 1970, ông xuất bản tập thơ Provavelmente Alegria (Có thể đây là niềm vui). Sau khi li dị năm 1970, ông có mối quan hệ với nhà văn Isabel Da Nóbrega. Năm 1971, ông rời nhà xuất bản, làm việc trong hai năm cho tờ báo buổi tối Diario de Lisboa. Năm 1975, Saramago xuất bản tập thơ O Ano de 1993 (Năm 1993) và tiểu thuyết Manual de Pintura e Caligrafia (Tài liệu về hội họa và thư pháp, 1978); tiếp đó ông liên tiếp cho ra đời các tập truyện và tiểu thuyết như Objecto Quase (Mục tiêu Quase, 1978), Đêm tối (1979), Que farei com este livro? (Tôi có thể làm gì với quyển sách này?, 1980)…

Năm 1988, ông kết hôn với nhà báo Pilar Del Rio. Năm 1993, ông bắt đầu viết hồi ký gồm năm tập. Năm 1995, ông được trao giải Camoes. Năm 1998 ông được trao giải Nobel Văn học, cho đến nay là người Bồ Đào Nha duy nhất được nhận giải thưởng này. Năm 2000 Saramago hoàn thành tiểu thuyết A Caverna (Hang động), là cuốn cuối cùng trong bộ ba tiểu thuyết – 2 cuốn đã xuất bản là Ensaio sobre a Cegueira (Mù lòa, 1995) và Todos os nomes (Mọi cái tên, 1997).

Sáng tác của Saramago đa dạng và đầy mâu thuẫn. Tiểu thuyết Phúc âm theo Jesus Christ (1991) bị nhà thờ Cơ đốc giáo buộc tội “coi thường sự thật lịch sử và xuyên tạc các nhân vật chính trong Tân ước” nhưng lại được tái bản hơn hai chục lần trong nước và được dịch ra 25 thứ tiếng nước ngoài.

Một trí thức tự học, gắn bó với văn chương từ trẻ nhưng phải đến sáu chục tuổi mới được thừa nhận, Saramago thường cay đắng nói: “Lên sao Hỏa còn dễ hơn là gọi được cửa trái tim của những kẻ cùng thời”. Tuy vậy, giải Nobel có vẻ đã phủ nhận suy nghĩ bi quan này.

Tác phẩm
Terra do Pecado (Mảnh đất tội lỗi, 1947), tiểu thuyết
Os Poemas Possíveis (Chùm thơ có thể, 1966), thơ
Provavelmente Alegria (Có thể đây là niềm vui, 1970), thơ
O Ano de 1993 (Năm 1993, 1975), thơ
Notas (Ghi chép, 1975), tiểu thuyết
Objecto Quase (Mục tiêu Quase, 1978), truyện ngắn
Manual de Pintura e Caligrafia (Tài liệu về hội họa và thư pháp, 1977), tiểu thuyết
Que farei com este livro? (Tôi sẽ làm gì với cuốn sách này?, 1980), kịch
Levantado do Chão (Đứng lên từ cát bụi, 1979), tiểu thuyết
Memorial do Convento (Hồi ức về tu viện, 1982), tiểu thuyết
O Ano da Morte de Ricardo Reis (Năm Ricardo Reis qua đời, 1984), tiểu thuyết
A Jangada de Pedra (Chiếc bè đá, 1986), tiểu thuyết
A segunda vida de Francisco de Assis (Cuộc đời thứ hai của Francis Assisi, 1987), kịch
História do Cerco de Lisboa (Lịch sử cuộc phong tỏa Lisboa, 1989), tiểu thuyết
O Evangelho Segundo Jesus Cristo (Phúc âm theo Jesus Christ, 1991), tiểu thuyết
In Nomine Dei (1993), kịch
Ensaio sobre a Cegueira (Mù lòa, 1995), tiểu thuyết
Todos os Nomes (Mọi cái tên, 1997), tiểu thuyết
A Caverna (Hang động, 2000), tiểu thuyết
A Maior Flor do Mundo (2001)
O Homem Duplicado (2002) tiểu thuyết
Ensaio sobre a Lucidez (2004) tiểu thuyết
Don Giovanni ou O Dissoluto Absolvido (2005)
As Intermitências da Morte (2005) tiểu thuyết
As Pequenas Memórias (2006) tự truyện
A Viagem do Elefante (2008) tiểu thuyết
Caim (2009) tiểu thuyết

Tham khảo thêm ngay  Có Một Ngày, Bố Mẹ Sẽ Già Đi

MÙ LÒA – KHI TẤT CẢ CHỈ CÒN LẠI MỘT MÀU TRẮNG XOÁ

Mù lòa xuyên suốt về một “thế giới” của những người mù, thay vì một màu đen thăm thẳm, trong mắt họ lại là một màu trắng xóa. Cuốn sách bắt đầu bằng việc một người đàn ông bỗng bị mù khi đang dừng xe vì gặp đèn đỏ trên đường. “Mù” giống như một đại dịch khi bất cứ ai tiếp xúc với người đàn ông này, chớp mắt, mọi ánh sáng đều tắt ngụm. Duy chỉ có người vợ của ông bác sĩ nhãn khoa, bà vẫn nhìn thấy rõ mọi thứ, nhưng giả vờ mù để được chăm sóc chồng mình.

“Người mù trong thành phố này chờ đợi gì, nào ai biết, họ có thể đang đợi một phương thức nếu họ còn tin tưởng, nhưng họ hết hy vọng khi công chúng biết rằng dịch mù đã không chừa một ai…”

Để ngăn chặn “mù trắng” trở thành hiểm hoạ cho người dân. Chính quyền nơi đây đã quyết định nhốt tất cả những người mù bị lây bởi người đàn ông lái xe vào một nơi khỉ-ho-cò-gáy: bệnh viện bị bỏ hoang đã lâu. Hàng trăm người sống chật vật, thiếu thốn, chen chúc, dẫm đạp lẫn nhau… Từ lúc nào, nhà vệ sinh đã không còn là nhà vệ sinh đúng nghĩa, chỗ ngủ đến miếng ăn đều phải dành dật đổ máu. Những người phụ nữ bất lực, đổi lấy thân xác, chịu sự hành hạ dã man chỉ để có được bữa ăn… Mất đi đôi mắt, mất đi ánh sáng, cuộc sống của họ từ những ánh cười vui tươi, màu sắc của hy vọng, của niềm tin dần trở nên biến chất, tất cả chỉ còn là một màu xám ảm đạm, tuyệt vọng và chán nản. 

“Khi chúng ta quá túng quẫn, bị đau đớn và khổ não quấy rầy, khi ấy bản tính thú vật của chúng ta sẽ trở nên hiển nhiên nhất.” 

ÁNH SÁNG GIỮA THẾ GIỚI TỐI TĂM CỦA NGƯỜI “MÙ TRẮNG”

Cuộc sống của những người mù tưởng như đã lụi tắt. Nhưng thật may, giữa bóng tối ấy, vẫn còn có ánh sáng của sự nhân từ, của lòng yêu thương người: Cô gái đeo kính đen, người đàn ông lái xe bị mù đầu tiên, bác sĩ nhãn khoa… Và có lẽ, người vợ của bác sĩ nhãn khoa chính là ngọn lửa thắp lên ý chí cho mọi người khi bị nhốt ở bệnh viện bỏ hoang này.

Tham khảo thêm ngay  Vùng Đất Xannhicôp

Bà là một người hiền từ, vô cùng nhân hậu. Bà sẵn sàng làm hết sức mình để có thể cứu giúp những con người khốn khổ vì căn bệnh “mù trắng”. Sự xuất hiện của bà giống như một ngọn đuốc, là niềm tin, là điểm tựa cho những người mù, cho cả câu chuyện…

“Em không nghĩ chúng ta đã hoá mù, em nghĩ từ trước đến giờ chúng ta vẫn mù, Mù nhưng không thấy, Những người mù có thể nhìn, nhưng không thấy.”

LỜI KẾT

Với cốt truyện mới lạ, lối kể chuyện hấp dẫn, José Saramago đã thực sự rất thành công trong việc khắc hoạ Mù lòa về một thế giới hư ảo. Một thế giới không có thực khi con người trở nên mù lòa. Đó là một bức tranh về hiện thực xã hội nhưng lại không thể nhìn bằng mắt thường. Chỉ khi đặt mình vào trong đó, ta mới có thể cảm nhận được sự biến chất, tha hoá của con người. Phải chăng, một khi đã kham khổ đến tận cùng, chúng ta đều sẽ bộc lộ bản năng như một con thú, mất đi nhân tính, mất đi những cốt lõi, tinh túy của con người?

“Nếu chúng ta không thể sống hoàn toàn như con người, ít nhất chúng ta hãy làm mọi việc trong khả năng của mình để đừng sống hoàn toàn như con thú.”

Mình tin rằng đây là một cuốn sách mà ai trong chúng ta cũng nên đọc và cảm nhận. Chắc chắn Mù lòa sẽ không khiến bạn hối hận về sự lựa chọn này đâu!

Sách liên quan nên xem

Leave a Comment